Post: : Admin

Nhậm vận là vận chuyển, vận dụng, vận hành một cách tự nhiên, ngẫu nhiên, không cần tác ý hay gắng sức.



Hầu như trong Phật giáo đồ, ai cũng biết bài thơ Thị đệ tử của thiền sư Vạn Hạnh:
示 弟 子  
身 如 電 影 有 還 無 
萬 木 春 榮 秋 又 枯 
任 運 盛 衰 無 怖 畏 
盛 衰 如 露 草 頭 舖           

Thị đệ tử 
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Bàn về hai chữ “nhậm vận”

Bàn về hai chữ “nhậm vận”

Có hai bản dịch tiêu biểu, đó là bản dịch của H.T Thích Mật Thể:

Thân như bóng chớp chiều tà 
Cỏ xuân tuơi tốt thu qua rụng rời 
Xá chi suy thịnh cuộc đời 
Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành. 

Và bản dịch của Ngô Tất Tố:

Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối xuân tươi, thu não nùng 
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi 
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

Ngoài ra còn có nhiều bản bản dịch khác nhưng không tiện dẫn ra.

Ở đây, chúng tôi chỉ muốn bàn về hai chữ “nhậm vận” trong câu “nhậm vận thịnh suy vô bố úy”. Câu này nhiều vị dịch thơ như sau:

- Theo vận thịnh suy không sợ hãi. 
- Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi. 
- Nhìn cuộc thịnh suy không sợ hãi. 
- Tùy vận thản nhiên khi lên xuống. 
- Thế cuộc mất còn chi phải sợ.
- Thịnh suy tùy vận không lo lắng.

Hoặc là diễn đạt ý nghĩa:

- Mặc cho thời vận của cuộc đời thịnh hay suy gì cũng đừng nên lo lắng mà chi.
- Đã nhậm vận, thì thịnh hay suy không làm cho sợ hãi.
- Tu tập đạt đến trình độ thông hiểu mọi quy luật của thân, vạn mộc rồi thì không lo sợ nữa. Nhậm vận tức là hằng ngày sống một cách bình thản an nhiên với tất cả mọi người, không có vấn đề gì cả. 
- Thế nên thịnh suy trong cuộc đời không có gì phải sợ hãi mà phải luôn gánh vác trách nhiệm, phải biến bị động thành chủ động để nắm lấy thời vận mà hành động một cách linh hoạt bất kể là thịnh hay suy.
- Một khi người tu hành đã đạt tới “nhậm vận” thì có thể hoà đồng giữa ngoại giới và nội tâm, vượt lên trên sự phân định giữa cái ta và cái không ta. Như vậy, “nhậm vận” như thế là biết trở về với sự an nhiên nằm trong sự vận động vĩnh cửu, một sự vận động vô thuỷ, vô chung, trong đó cuộc đời con người chỉ như là ánh chớp có rồi không, rất ngắn ngủi và sự thịnh suy như giọt sương treo đầu ngọn cỏ.

Theo từ điển Hán ngữ định nghĩa:

【詞目】任運【讀音】rèn yùn
【釋義】任法之自然運動,不加人工的造作。謂聽憑命運安排。
【出處】《宋書·王景文傳》:“有心於避禍,不如無心於任運。”

【 từ mục 】nhậm vận【 âm đọc 】rèn yùn

【 thích nghĩa 】nhậm pháp chi tự nhiên vận động, bất gia nhân công đích tạo tác, vị thính bằng mệnh vận an bài. (Mặc cho sự vật tự nhiên vận động, không cần thêm sức người tạo tác, nghĩa là như mặc cho vận mệnh an bài.)

【 xuất xứ 】《Tống thư - Vương Cảnh Văn truyện》: “Hữu tâm ư tị họa, bất như vô tâm ư nhậm vận.” (Hữu tâm để tránh tai họa, không bằng vô tâm để xuôi theo tự nhiên.)

Theo Tự điển Phật Quang:

“Nhậm vận (任運): Đồng nghĩa: Vô công dụng. Không cần dụng công tạo tác để thành tựu sự nghiệp, cứ thuận theo sự tự nhiên của các pháp mà vận hành. Thông thường, từ Thất địa trở về trước thì phải dụng công tu tập, còn từ Bát địa trở lên thì không cần dụng công nữa, mà chỉ thuận theo pháp tính tự nhiên. Vãng sinh lễ tán (Đại 47, 439 thượng) nói: Tự nhiên nhậm vận, tự lợi, lợi tha, không hạnh nào chẳng đầy đủ. Đây là hiển bày cái đức nhậm vận tự nhiên của Tịnh độ cực lạc, đầy đủ các hạnh lợi mình và lợi người. [X. Ma ha chỉ quán Q.5].”

Hai chữ “nhâm vận” này

Như vậy, nhậm vận là vận chuyển, vận dụng, vận hành một cách tự nhiên, ngẫu nhiên, không cần tác ý hay gắng sức.

Kinh Hoa Nghiêm, No. 0279, Thật-xoa-nan-đà dịch, Q.37, tr. 193c27: “Ở trong các thú, khởi thân ngũ uẩn gọi là sanh; suy biến gọi là lão; chết mất gọi là tử. Lúc lão tử sanh ra những nhiệt não. Do nhiệt não nên đủ thứ khổ ưu sầu, buồn than tập hợp lại. Đây là do duyên mà tập hợp chứ không có cái tập hợp. Tự nhiên vận chuyển (nhậm vận) mà diệt chứ không có cái diệt.” (於諸趣中。起五蘊身名生。生已衰變爲老。終歿爲死。於老死時生諸熱惱。因熱惱故憂愁悲歎衆苦皆集。此因縁故集無有集者。任運而滅。亦無滅者。)

Kinh Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa, Q.4, tr. 37b10: “Xá Lợi Tử! Các đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã-ba-la-mật-đa, vì cùng tương ưng với bát-nhã ba-la-mật-đa như vậy, nên hoàn toàn chẳng khởi các tâm chướng ngại là xan tham, phạm giới, giận hờn, lười biếng, tán loạn, ác tuệ, thì bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát-nhã ba-la-mật tự nhiên hiện tiền, không có gián đoạn.” (舍利子。諸菩薩摩訶薩修行般若波羅蜜多。與如是般若波羅蜜多相應故。畢竟不起慳貪犯戒忿恚懈怠散亂惡慧障礙之心。布施淨戒安忍精進靜慮般若波羅蜜多。任運現前無間無斷。)

Luận Thành duy thức, Q.5, tr. 27a18: “Tham, si vận hành tự nhiên, cùng hiện khởi với năm thức; trong cõi thuần khổ, phiền não vận hành tự nhiên; chúng không phát nghiệp, vì là vô ký. Chúng thảy đều có thể cùng tương ưng với khổ căn.”

(五識倶起任運貪癡。純苦趣中任運煩惱。不發業者是無記故。彼皆容與苦根相應。)

Kinh Giải thâm mật, phẩm Phân biệt du-già, tr. 699b21: “Bồ tát Từ thị lại thưa Phật: Bạch đức Thế tôn, đình chỉ là thế nào? phấn chấn là thế nào? xả bỏ là thế nào? Đức Thế tôn dạy bồ tát Từ thị: Thiện nam tử, khi tâm quấy động, hay khi phòng tâm quấy động, thì sự tác ý về cái đáng chán, và sự tác ý liên tục về cái tâm ấy, gọi là đình chỉ; khi tâm chìm đắm, hay khi phòng tâm chìm đắm, thì sự tác ý về cái đáng vui, và sự tác ý về cái tâm ấy, gọi là phấn chấn; hoặc chỉ có chỉ, hoặc chỉ có quán, hoặc cả chỉ quán song hành, mà khi bị nhuốm bẩn vì hai thứ tùy phiền não (là quấy động và chìm đắm như trên) thì sự tác ý mà vô công dụng, và những gì tác ý (khởi lên) trong tâm thì vận chuyển tự nhiên, gọi là xả bỏ.”

(慈氏菩薩復白佛言。世尊。云何止相。云何擧相。云何捨相。佛告慈氏菩薩曰善男子。心掉擧。或恐掉擧時諸可厭法作意。及彼無間心作意。是名止相。若心沈沒。或 恐沈沒時。諸可欣法作意。及彼心相作意。是名擧相。若於一向止道。或於一向觀道。或於雙運轉道。二隨煩惱所染汚時。諸無功用作意。及心任運轉中所有作意。是名捨相。)

Kim Kim quang minh tối thắng vương, Q.1, phẩm Như lai thọ lượng, tr. 407a09: “Bốn là [chư Như lai] đối với chúng sinh, một cách tự nhiên, tạm ngừng hóa độ [khi cơ duyên hóa độ đã hết], nên nói là niết bàn.”

(四者。於諸有情任運休息化 因縁故。名爲涅槃。);

Và tr. 407c09: “Hai, đối với chúng sinh, Như lai không nghĩ họ là ngu phu, đi theo quan niệm thác loạn, bị phiền não ép buộc, Như lai phải khai thị cho họ siêu thoát; thế nhưng do sức mạnh của từ bi quá khứ, nên đối với chúng sinh vẫn tùy trình độ, ý thích và nhận định của họ mà tự nhiên cứu độ, chỉ thị và huấn dụ cho họ lợi ích và hoan hỷ mà không phân biệt gì hết, cùng tận thì gian, không có kết thúc, đó là việc Như lai làm.”

(二者。佛於衆 生不作是念。此諸愚夫行顛倒見。爲諸煩惱之所纒迫。我今開悟令其解脱。然由往昔慈善根力。於彼有情。隨其根性意樂勝解。不起分別。任運濟度示教利喜。盡未來際。無有窮盡。是如來行。)

Kinh Phật thuyết A Di Đà, No. 366, Cưu-ma-la-thập dịch, tr. 348b02: “Đức Phật Vô Lượng Thọ thuyết chú Vãng sanh tịnh độ: ‘Nam mô A di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ ta bà ha.’ Người tụng chú này thì đức Phật A Di Đà thường trú trên đỉnh đầu của người ấy; sai khi mạng chung thì tự nhiên vãng sanh.”

(無量壽佛 説往生淨土呪 南無阿彌多婆夜 哆他伽哆夜 哆地夜他 阿彌唎都婆毘  阿彌唎哆 悉耽婆毘 阿彌唎哆 毘迦蘭哆 伽彌膩 伽伽那抧多迦隸莎婆訶

誦此呪者阿彌陀佛常住其頂命終之後任運往生

Nhiếp đại thừa luận bản, tr. 144c02: “Nên biết như thế nào về sự tu tập các pháp ba la mật này? Nên biết sự tu tập ấy đại lược có 5 sự. Một là tu tập bằng sự nỗ lực nổi lên. Hai là tu tập bằng sự thắng giải. Ba là tu tập bằng sự tác ý. Bốn là tu tập bằng sự phương tiện khéoléo. Năm là tu tập bằng sự thành tựu việc làm. Tựu trung, 4 sự tu tập thì như trước đã nói, còn sự thành tựu việc làm là chư vị Như lai thì việc Phật vận dụng tự nhiên mà không có ngừng nghỉ, đối với các pháp ba la mật mà các Ngài đã viên mãn các Ngài lại hoạt dụng các pháp ấy.” (H.T Thích Trí Quang dịch)

(云何應知修習如是波羅蜜多。應知此修略有五種。一現起加行修。二勝解修。三作意修。四方便善巧修。五成所作事修。此中四修如前已説。成所作事修者。謂諸如來任運佛事無有休息。於其圓滿波羅蜜多。)

Hiển dương Thánh giáo luận, tr. 491c09: “Sáu là Hiện tiền địa: Các Bồ-tát trú trong địa này, vì trước đã khéo tu đối trị ở địa thứ năm, vượt qua tất cả Thanh văn, Độc giác địa, chứng được Cực tịnh duyên trí và phi trí, hai thứ tạo nên các hành lưu chuyển hay ngưng dứt, là vi diệu tuệ uẩn về pháp cảnh, mà phần nhiều là hữu tướng tương tục một cách tự nhiên, khiến cho diệu trí hiện ra trước mắt, cho nên địa này gọi là Hiện tiền.”

(六現前地。謂諸菩薩住此地中。先善修治第五地故。超過一切聲聞獨覺地。證得極淨縁智非智二種所作諸行流轉止息法境微妙慧蘊。多分有相任運相續妙智現前。是故此地名爲現前。)

Đại thừa Khởi tín luận, tr. 577b08: “Ba, [Ý] tên là hiện thức, là đối cảnh do năng kiến hình thành - Như gương sáng hiện ra hình ảnh, hiện thức cũng vậy, năm đối cảnh đối diện là biểu hiện, không có trước sau, vì hiện thức lúc nào cũng tự chuyển động liên tục.”

(三者名爲現識。所謂能現一切境界。猶如明鏡現於色像。現識亦爾。隨其五塵對至即現無有前後。以一切時任運而起常在前故。)

Kinh Đại thừa đại tập Địa tạng thập luân, Q. 10, tr. 773a12: “Như thế gọi là phương tiện thiện xảo thế gian của Bồ-tát. Phương tiện thiện xảo này là cộng pháp với hàng Thanh văn, Độc giác, v.v…, cũng làm nhân tố nương tựa của tất cả pháp của Phật, cũng là chỗ nương tựa của các hạnh thiện xảo, cũng là pháp thiện xảo chuyển vận tự nhiên, không nghĩ, không diệt, không thoái lui.” 

如是名爲菩薩世間善巧方便。此巧方便共諸聲聞獨覺乘等。亦作一切佛法依因。亦是善巧諸行依處。亦是善巧任運無思滅退墮法。

Kinh Đại bảo tích, Q. 39, phẩm Như Lai bất tư nghị tánh, tr. 228b28: “Nầy Xá Lợi Phất! Đức đại bi chẳng thể nghĩ bàn ấy của Như Lai chẳng do công dụng, thường chuyển một cách tự nhiên, luôn lưu bố khắp đầy mười phương thế giới không có chướng ngại.”

(復次舍利子。如是如來不可思議大悲。不由功用任運常轉。流布遍滿十方世界無有障礙。)
Gọi tắt của từ Nhậm vận (任運), nghĩa là sự việc được phát khởi một cách ngẫu nhiên, không do bởi sự tạo tác của tâm thức phân biệt hiện tại (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

如顯揚論云 「意者 謂從阿賴耶識種子所生 還緣彼識我癡我愛我我所執我慢相應」 (T 1602.31.480c16-17) 故 其我見中有二種緣 一緣自依止 二緣他依止 末那所起唯有初緣 意識之中具二種緣 緣自我見 有二種起。謂分別起及任運起。末那有後7 意識具二。

論三性者。三性法門乃有多種 今且依一自性門說。色無色界一切煩惱及欲界中末那四惑 皆是有覆無記性攝 五識所起貪恚癡等是不善性 不善意識之等流故 如瑜伽說 「決定心後方有染淨 此後乃有等流 眼識善不善轉 而彼不由自分別力」 (T 1579.30.280a24-25) 「如眼識生乃至身識應知亦爾」 (T 1579.30.280a21) 故 欲界意識所起之中 若分別起8 一切煩惱悉是不善 任運起中身邊二見 是無記性

[HBJ 1.799a10, WSC 456]

又、此門中所以二見 亦有倶99 生。三見100 及疑唯分別起者。以彼二見内計自體恒時數習、是故亦有任運現行。三見及疑推求道理不如實知。不正計度非數數起 故無倶生。雖於諸事任運起疑、不染汚故、非惑性攝。故修斷惑唯有六種、此等皆說六識所起。若論末那相應四惑、相從通入修斷四中。是謂一百二十八煩惱也

上來所明治斷差別、是說六識所起煩惱。若其末那相應四惑行相、與品最爲微細、於三界中等無差別。是故唯離非想欲時一時頓斷。如瑜伽說。 「末那相應任運煩惱。」 (T 1579:30.651c15.) 「唯離非想處欲故、一時頓斷。非如餘惑、漸次而斷。」 (T 1579:30.652a2-4.)

如顯揚論云 「意者 謂從阿賴耶識種子所生 還緣彼識我癡我愛我我所執我慢相應」 (T 1602.31.480c16-17) 故 其我見中有二種緣 一緣自依止 二緣他依止 末那所起唯有初緣 意識之中具二種緣 緣自我見 有二種起。謂分別起及任運起。末那有後7 意識具二。

[HBJ 1.790c7, WSC 345]

論三性者。三性法門乃有多種 今且依一自性門說。色無色界一切煩惱及欲界中末那四惑 皆是有覆無記性攝 五識所起貪恚癡等是不善性 不善意識之等流故 如瑜伽說 「決定心後方有染淨 此後乃有等流 眼識善不善轉 而彼不由自分別力」 (T 1579.30.280a24-25) 「如眼識生乃至身識應知亦爾」 (T 1579.30.280a21) 故 欲界意識所起之中 若分別起8 一切煩惱悉是不善 任運起中身邊二見 是無記性
【任運】. 任法之自然運動,不加人工的造作。

Quảng Minh


Chú thích của ban biên tập:
Thiền sư Vạn Hạnh họ Nguyễn, sinh vào khoảng năm 932, người làng Cổ Pháp, phủ Thiên Đức (hiện nay là làng Đại Đình, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh). Ngài xuất gia ở chùa Lục Tổ, là học trò của Thiền Ông. Ngài thuộc thế hệ thứ 7 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi của chùa Pháp Vân.

Thiền Sư Vạn Hạnh đã từng giúp vua Lê Đại Hành trị quốc, nhưng khi thấy vua Lê Long Đĩnh không còn là minh quân, thiền sư Vạn Hạnh đã cùng với Đào Cam Mộc sắp xếp việc triều chính và đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua hiệu Lý Thái Tổ năm 1009.
Vào ngày rằm, tháng 5, năm Ất sửu, Thuận Thiên 16 (1025), ở chùa Lục Tổ, trước lúc qua đời, thiền sư đã gọi học trò đến dặn dò trong bài Thị đệ tử trên.