Post: : Admin

Người học đạo ở trong biển Thức có nhiều cảnh giới khác nhau. Một phái thì tu về pháp Ngoại đạo, còn một phái thì tu về Phật đạo...




Hòa thượng Trí Độ: Luận về sóng thức

Từ đời vô thỉ nhẫn lại đây có một cảnh-giới rất mầu nhiệm, rất khó nói.

Như nói về phần rộng lớn, thì bao hàm mười phương Thế giới, phát sanh tất cả muôn loài, vơi vơi thẳm thẳm, minh minh mông mông, vốn không có bờ cõi gì cả.

Còn như nói về phần hẹp nhỏ, thì kém thua hột-bụi lân-hư([1]), không biết bao nhiêu phần triệu x/ 1.000.000

Cảnh giới ấy gọi là gì ?

Cảnh-giới ấy là Tạng-thức. Kinh Lăng-Dà nói rằng:« Ngoại cảnh-giới phong, phiêu đãn tâm-hải, thức-lãng bất-đoạn » nghĩa là gió cảnh ở ngoài xao động biển tâm, thì sóng Thức chuyển luôn, chẳng khi nào tịnh. Thí như cái biển lớn, hồi chưa có gió vẫn là êm-lặng, đến lúc gió thổi thì sóng nỗi ba-đào, đàn trước đàn sau đều xô đẩy nhau mãi.


Biển Thức phát nguyện từ đâu ?

Biển Tạng thức là một cái nguồn mê-ngộ của chư Phật và chúng-sanh. Lúc chưa chuyển-biến thì nguyên là biển Giác-tánh, một màu trong lặng, toàn thể sáng-suốt, như gương chưa bụi, như trăng chưa mây. Trong khi đó chưa có Thế-giới, quấc-độ và chúng-sanh, chưa ai biết là nguồn-chơn, chưa ai hiểu là sóng Thức.

Từ khi nguồn-chơn gió thổi, sống Thức liền xao, thì ngàn tướng muôn hình đều từ đó sanh ra các pháp.

Kinh Lăng-Nghiêm nói rằng:« mê vọng hữu hư không, y không lập thế-giới, tưởng trừng thành quấc-độ, tri giác nãi chúng-sanh » nghĩa là bỡi mê vọng nên có hư-không, nương hư-không mới lập ra Thế-giới; cái vọng-tưởng đọng lại thành quấc-độ, tánh tri-giác khởi ra thành chúng-sanh.

Xem đó thì biết cả thảy các pháp hữu-tình vô-hình, cũng đều là cảnh-giới của sóng Thức, mà sóng ấy vì bỡi nguồn-chơn chẳng giữ tự-tánh, lại tuỳ theo duyên bật giác, nên mới thành ra sóng Thế-giới, sóng quấc-độ, sóng chúng-sanh, chìm-chìm nổi-nổi, động-động xao-xao, từ xưa đến nay thường-thường như vậy, không bao giờ bình-tịnh đặng.

Hòa thượng Trí Độ (1894 - 1979)

Hòa thượng Trí Độ (1894 - 1979)



Cái hình trạng sóng Thức phát-khởi ra thể nào?

Trên đây đã nói cái sóng Thức, nguyên là dòng nước thanh-tịnh của biển Giác-tánh, bỡi gió bất-giác cổ-động mà phát-khởi ra; cái hình-trạng phát-khởi đó thiệt là biến-hiện vô-cùng, muôn dạng lao-xao, một màu nhơ đục, gió thổi đến đâu thì sóng kéo đến đó; ngọn gió nhỏ thì lượng sóng nhỏ, trận gió lớn thì mòi sóng cũng lớn, sóng nào nổi lên trước thì dẫn dắt sóng sau, sóng nào phát lên sau thì xô đẩy sóng trước; sóng nầy vừa hạ xuống, thì sóng nọ đã nổi lên, cuồn-cuộn từ thấp, rồi trào vọt lên cao, khua chuyển luôn đêm ngày, vang rền cả Thế-giới, đến nổi gió đã tạnh , mà cái lượng sóng những còn xao-xao giợn-giợn mãi.

Nên kinh Lăng-Dà nói rằng:« Thí như cự hải lảng, tư do mãnh-phong khởi, hồng-ba cổ minh-hắc, vô hữu đoạn tuyệt thời; tạng-thức-hải thường trụ, cảnh giới phong sở động, chủng-chủng chư thức-lảng, đẳng vướt nhi chuyển sanh », nghĩa là: thí như cái biển lớn, bỡi gió mạnh chuyển động nên con sóng vẫy-vùng, không khi nào êm lặng, cũng như biển Tạng-thức mà bị gió Cảnh-giới xông-đột thì sanh ra bao nhiêu sóng Thức vậy.


Sóng Thức có gốc hay là không ?

Sóng Thức nguyên chẳng phải có, mà cũng chẳng phải không. Hễ đủ các nhơn-duyên hội-hiệp lại thì có, bằng không đủ các nhơn-duyên chẳng có, nên sách Triệu-luận nói rằng:« Nhứt thiết chư pháp duyên hội nhi sanh, duyên hội nhi sanh, tác vị sanh vô hữu, duyên ly tắc diệt, như kỳ chơn hữu , hữu tắc vô diệt, dỉ thử nhi suy, cố tri tuy kim hiện hữu, nhi tánh thường tự không, tánh thường tự không, vị chi tánh không, pháp tánh như thị » Nghĩa là: cả thảy các pháp nhân-duyên hội-hợp mà sanh. Nếu đã hội-hợp mà sanh, thì trước khi chưa sanh, nguyên chẳng có các pháp, đến lúc nhân-duyên tan-rã thì tiêu mất; nếu như các pháp thật có, thì ai làm cho nó tiêu mất đi đặng. Suy-xét cái lý đó thì biết ngày nay, tuy là hiện có các pháp, mà thể tánh của các pháp vẫn hằng không, thể tánh hằng không đó, gọi là tánh không, pháp tánh vốn thường như vậy.

Nếu hiểu đặng cái lý « duyên-khởi vô-sanh » đó thì khỏi bị mòi sóng Thức xao động biển trí của mình.


Biển Tạng-thức thể dụng ra sao ?

Bổn-thể của biển Tạng-thức rất là rộng lớn, cao-sâu, trong-sạch, mầu-nhiệm, hay tuỳ-duyên mà tạo ra các pháp.

Các pháp ấy nguyên lai ở trong râm-niệm của chúng-sanh. Dẫu cho sanh-sanh. Diệt-diệt, lặng mọc không thường mà chẳng bao giờ đánh đổ cái thể tánh của nó đặng.

Thí như tánh nước lỏng và trơn ướt, hằng lưu-bố khắp cả mười phương thế-gian, tuy là gió vập, sóng nhồi, đun hơi, động giá, mà ránh ướt lỏng ấy cũng chẳng khi nào biến mất, muôn xưa không dời đổi, lịch-kiếp vẫn thường còn, vậy nên gọi là thể chơn-như bất-biến.

Còn như nói về phần nghiệp-dụng, thì giác tánh bỡi sẵn có cái năng-lực tuỳ duyên. Nên đương lúc thênh-không, nhơn gió vọng chuyển động mà lưu-chú ra thành bốn dòng nghiệp-thức.

Bốn dòng ấy để dưới đây:

1. Dòng kiến-lưu: nghĩa là sóng kiến-thức lộn đục cuộn quan;

2. Dòng dục-lưu: nghĩa là sóng tham-lam tràng-lang khoả-khắp;

3. Dòng hữu-lưu: nghĩa là sóng sanh-tữ hằng chìm nổi luôn luôn;

4. Dòng vô-minh-lưu: nghĩa là sóng ám-muội mịt-mù trào nhẫy.

Bốn dòng sóng ấy, thường xoay quanh ba cõi, chìm đắm muôn loài, suốt cả ba đời, ít khi êm lặng, thật là ghê lắm, nào là sóng khí-thế-giới([2]) nào là sóng tinh-thế-gian([3]) và những sóng tham-sân, sóng si-mạng, sóng vọng-tưởng, sóng đoạn-trường, ngàn khoảnh muôn trùng, cuồn-cuộn quanh-quanh, vùi lấp chúng hữu-tình, ngấm ngầm trong biển khổ.

Bốn dòng sóng nói trên đó tuy là vô-hình, mà thật là nguy-hiểm hơn sóng hữu-tình giữa biển khơi kia !

Những sóng hữu-tình, như là sóng-chướng và sóng-thần, thì người ta có thể phòng giữ trước đặng, chớ như sóng vô-hình trong tâm của chúng-sanh, thoạt nổi lên thì không có chước gì ngăn đón lại được.


Cảnh giới trong biển Tạng thức bền chắc hay không ?

Cảnh-giới trong biển Thức, nguyên là cái bóng của biển trí, hoặc hiệp hoặc tan, thoạt còn thoạt mất, thì đâu có phải là cái cảnh thường-tồn, nên dầu bền chắc như Thế-giới mà đến khi hoại kiếp thì cũng phải nát tan; Thử xem bãi biển cồn dâu, cái biến-trạng đã như một lùm mây Thương-cẩu([4]), đến lúc gió Tì([5]) lửa kiếp([6]), cái hoại-hình lại xoay ra một cảnh-giới Hư-không.

Còn cảnh-giới của các loài chúng-sanh ở trong biển ấy, phần thì bị gió bất-giác và gió bát-phong lưu-chuyển, phần thì bị gió nghiệp-cảnh và gió lục-trần động xao, khiến cho lượng sóng « sanh » lượng sóng « lão », lượng sóng « bịnh », lượng sóng « tữ », vùi lấp luôn luôn, mà ở trong dòng « địa-ngục », dòng « ngạ-quỉ », dòng « súc-sanh », đắm chìm mãi-mãi, bỏ thân nầy làm  thân khác, mãn kiếp nọ đến kiếp kia, thường chơi-vơi giữa biển-luân-hồi, không bao giờ thoát ra cho khỏi đặng.


Cảnh-giới của người học đạo ở trong Thức ra làm sao ?

Người học đạo ở trong biển Thức có nhiều cảnh-giới khác nhau. Một phái thì tu về pháp Ngoại-đạo, còn một phái thì tu về Phật-đạo.

Phái tu về  Ngoại-đạo có nhiều cách, nhưng mà tổng-yếu lại cũng thuộc về   Đoạn-kiến và thường-kiến, đều lược giãi dưới đây:

1. Đoạn-kiến: nghĩa là chấp cho chẳng có sự gì cả, chẳng có nhơn-quả luân-hồi, chẳng có thiện ác báo-ứng,chẳng có Địa-ngục, Thiên-đường; chẳng có Phật, Trời,Thần, Thánh, chỉ đoạn trừ vọng-tưởng thì đặng vào đạo Niết-bàn, vân vân…

2. Thường-kiến: nghĩa là chấp cho cái nội tâm và ngoại cảnh của chúng-sanh, tuy là có sanh-diệt, song đều là lý tuần-hoàn vốn không tan mất; Cái thể Tứ-đại « đất, nước, gioa, lửa », của thân chúng-sanh tuy là có sanh-diệt, nhưng mà tánh đều thường còn hoài. Cái ý-thức của chúng-sanh, tuy là lăn-lộn, song xưa nay chẳng hề biến mất; nếu cái tâm tư-tưởng « sanh-diệt » đã dứt hẵn rồi thì cái lý « không sanh-diệt » tự nhiên hiện thành, vân vân…

Hai cảnh giới đó toàn là sóng nghiệp-thức, lưu-động một phía chấp-đoạn và một phía chấp-thường, chưa vào đặng trong dòng biển trí thì có lẽ nào thoát khỏi ra ngoài cái biển luân-hồi đặng.

Phái tu về Phật-đạo cũng có nhiều bực, nên Phật nói các ngươi học-đạo Niết-bàn, thì như bảy hạng người trong sông Hằng-hà (Gange).

Bảy hạng người ấy giãi dưới đây:

1. Những người chẳng đủ lòng tinh, phần nhiều tánh ác, chê bai kinh-điển, gây ra tội chướng, tâm điên-đảo mê lầm, nghiệp vô-minh ràng buộc, nên cứ chìm nổi trong ngục A-tì hoài, thí như người chẳng biết lội bơi mà sa xuống biển.

2. Những người có căn lành một ít lại gặp kẻ thiện-tri thức giáo-hoá, chỉ sự nhơn-quả tội-phước, khổ, lạc, luân-hồi, pháp Thế-gian và pháp xuất Thế-gian, vân vân…, nghe rồi gắn sức tu-hành, cầu ra biển khổ, thì sau khi mạng-chung sanh ra đời khác, hoặc sanh trên cõi trời hưởng sự tiêu diêu khoái lạc, hoặc sanh cõi người hưởng đặng cảnh phú-quí, rồi trở lại khởi lòng mê-hoặc, mà tạo ra nhiều tội-chướng, vì cớ đó sanh ra đời khác xoay lại chịu mọi sự khổ-sở. Thí như người chìm trong biển đã nổi lên rồi, trở lại chìm nữa.

3. Các ngượi Nội-phàm, mới phát tâm tu hạnh Bồ-Tát, thường thân-cận các người trí-thức, hỏi học được phép chánh-chơn, tu-tập đạo-mầu, dứt trừ nghiệp chướng, chẳng tham đắm biển trần, quyết cầu ra dòng khổ; cái tâm-trí đó, dầu chưa thành Phật-đạo, song cũng chẳng bị sóng sanh-tữ vùi lấp. Thí như người chìm trong biển mà đã nổi lên rồi, khỏi chìm lại nữa.

4. Những hàng Thinh-văn tu pháp Tứ-đế([7]), chứng quả Niết-bàn. Thí người chìm mà đã nổi lên rồi, nhưng còn linh-đinh giữa vời, chớ chưa bơi lội đi đặng.

5. Các vị Duyên-giác, dùng trí điển-quang, xét pháp duyên-khởi, tu mười hai pháp nhơn-duyên([8]) chứng đặng quả Hữu-dư Niết-bàn([9]). Thí như người đã nổi lên rồi mà lội bơi đặng, song còn chơi vơi giữa dòng chớ chưa đến bờ.

6. Các vị Bồ-Tát cầu đạo Phật thừa, tu-tập tất cả các pháp, tế-độ hết thảy chúng-sanh. Tuy đã phát trí Căn-bản, song chưa sáng-suốt bằng Phật; tuy đã dứt nghiệp vô-minh, song chưa trong-sạch bằng Phật và tuy đã chứng đặng các quả-vị, nhưng mà cũng chưa đến bực Diệu-giác. Thí như người bơi lội mới đến chỗ cạn, chưa vượt ra khỏi biển.

7. Bực Phật-Đà mãn ba kiếp Tăng-kỳ([10]), đủ muôn ngằn công-hạnh, trừ hết hoặc vô-minh phiền-não, chứng đặng quả Diệu-Đức Niết-bàn, tự-tại tiêu-diêu trên con đường giãi-thoát, mặc dù lội lặn trong biển khổ, mà cứu vớt chúng-sanh, chẳng hề bị sóng Nghiệp-thức vùi lấp đặng. Thí như người thiện nghề lội bơi, hể xuống dưới nước thì có phần tự-tại, và cũng như con rùa, hoặc lội dưới nước, hoặc đi trên bờ, đều cũng thong-thả cả.

Kinh Lăng-Nghiêm nói rằng: « Như trừng trược thuỷ, trử ư tịnh khí, tịnh thâm bất động, sa thổ tự trầm, thanh-thuỷ hiện tiền, danh vi sơ phục, khách trần phiền-não ». Nghĩa là thí như múc nước đục chứa trong đồ lọc mà lóng để đứng lặng chớ xao động tới. Lâu thì đất cặn chìm xuống còn nước trong hiện ra; ấy gọi là mới dẹp bụi nhơ phiền-não. – Đó là cảnh-giới của hàng Nhị-thừa và các vị Bồ-Tát, còn ở trong dòng hiện-lượng của thức-tánh. – Nên trong sách có nói rằng: « Đốn ngộ tuy đồng Phật, đa sanh tập-khí thâm, phong đình ba thượng lãng, lý hiện niệm do xâm ». Nghĩa là mau tỏ tuy bằng Phật, nhiều đời tập-khí sâu, gió tịnh sóng chưa tịnh, chơn bày, vọng hết đâu.

Kinh Lăng-Nghiêm lại nói rằng:« Khử nê thuần thuỷ, danh vi vĩnh-đoạn căn-bản vô-minh, minh-tướng tinh thuần, nhứt thiết biến hiện, bất vi phiền-não, giai hiệp Niết-bàn, thanh tịnh Diệu-đức ». Nghĩa là bỏ hết những bùn-cặn, lọc lấy toàn nước trong, vậy mới gọi rằng, dứt bặt cội-gốc vô-minh, thuần là một tướng, trong-sạch sáng-suốt, hiện ra cả thảy các sự biến hoá đều hiệp với đức mầu của đạo Niết-bàn (Nirvana). – Đó là cảnh-giới của Phật-Đà (Buddha), đã gạn trong biển Thức, lóng sạch nguồn chơn thì toàn là nước trí thanh-tịnh trong biển giác-tánh, mặc dầu động gió Đại-bi, nổi sóng Thần-biến, mở nguồn Giáo-hải, mà rửa sạch cái tâm trần-cấu cho chúng-sanh, vận-động luôn luôn, mà cái biển tánh của Phật, cũng chẳng bao giờ nhơ nhớp nữa.


Người thế-gian ở trong biển Thức cảnh giới ra thế nào ?

Hết thảy chúng-sanh đều nương theo « Thức » mà làm mạng; nếu « Thức » còn thì mạng còn « Thức » đi thì mạng mất. Bổn-thể của « Thức » nguyên là một đáng tinh-minh, còn nghiệp-dụng của « Thức » thì có bốn phần sai biệt kể ra dưới nầy:

1. Hiện-lượng của năm Thức: ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân). Năm Thức ấy đều có cái năng-lực liểu-cảnh([11]) hể gặp cảnh gì thì tự-nhiên hiểu biết liền, không cần phải dụng-tâm mà suy-xét rồi sau mới biết, như con mắt xem biết các sắc, lỗ tai nghe biết các tiếng, lỗ mũi hữi biết các mùi, cái lưỡi nếm biết các vị, thân-thể xúc động biết các vật, v..v..

2. Tỉ-lượng([12]) của ý-thức hay so-sánh tỏ biết. Hễ năm Thức nói trên đó cãm-xúc những cảnh: sắc, thinh, hương, vị, xúc, thì thức nầy lại so-sánh rồi phân biệt ra, như quyết-định cho rằng sắc ấy tốt hay là xấu, tiếng ấy hay hay là dở, mùi ấy thơm hay là thúi, vị ấy ngon hay là dở và các sự xúc-động khoái-lạc hay là chẳng khoái-lạc, v.v…

3. Phi-lượng([13]) của « Mạt na thức » hay suy-tính ngẫm-nghĩ. Hễ mấy thức nói trên đó đã lãnh-nạp các cảnh ngoài đưa vào, thì thức nầy liến suy-xét lại cái sắc đó tốt mà chẳng phải tốt, cái tiếng đó hay mà chẳng phải hay, mùi đó thơm mà chẳng phải thơm, vị đó ngon mà chẳng phải ngon, và các sự xúc-động đó khoái-lạc mà chẳng khoái-lạc, v.v…

Cái Phi-lượng của Mạt-na-thức lại có cái năng-lực truyền tống, ngoài thì thông với sáu thức, ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), còn trong thì thông với Tạng-thức; nên sáu thức ngoài có gây ra sự chi, thì đưa sự ấy vào cho Tạng-thức để cầm giữ; còn Tạng-thức có phát khởi sự gì, thì đưa sự ấy ra cho sáu thức ngoài thi hành.

4. Thức hàm-tàng là thức thứ tám, có cái năng lực chứa giữ rất bền chặc, không khi nào hư mất, thí như một cái kho chắc-chắn để chứa cất các đồ vật vậy. Hễ bảy thức trước tạo-tác nghiệp gì, thì thức cất để vào trong, đời đời không di dịch. Cả thảy các loài hữu-tình cũng đều có mấy món nghiệp-thức ấy.  Thế mà xưa nay ít ai xét biết rằng cảnh-giới hằng ngày bị sóng Nghiệp-thức vùi lấp mà làm cho mình chìm đắm đó đâu.


Cảnh giới của người bị sóng Thức lưu động nhiều thế lược giải dưới đây:

10 Sóng nhã thức (con mắt). Phàm xem thấy cả thảy những sắc xinh cảnh đẹp, thì sóng “Tham” nhãy trào, dường như muốn tràng chụp cả cái sắc và cảnh ấy mà đem vào trong Dục hải (biển muốn); còn xem thấy sắc gì nghịch ý, cảnh gì trái lòng, thì sóng “sân” cuồn cuộn tợ như muốn vùi lấp cái sắc và cảnh ấy trong lượng nô đào (sóng giận). song chẳng những có hai sóng ấy mà thôi, lại còn sóng “Tà kiến” và sóng “Ác kiến” nữa.

20 Sóng nhĩ thức (lỗ tai). Phàm nghe tiếng ca hát, ngâm vịnh và các tiếng nói êm đềm ngọt dịu, làm cho ưng ý đẹp lòng thì nổi sóng “Dục tình”, còn như nghe những tiếng chê bai, mắng chưởi, nghịch ý, trái tai, thì nổi sóng bất bình.

30 Sóng tĩ thức (lỗ mũi). Hể hửi nhằm mùi gì thơm tho, thì sóng nhiễm trước (ưa muốn) tràng ra; còn gặp mùi gì hôi tanh thì sóng “Yểm ố” (nhàm gớm) trào mãi.

40 Sóng thiệt thức (cái lưỡi). Hễ ăn trúng vật gì ngon, thì nổi sóng thị lạc (thèm đắm), còn nhằm món gì dở thì động sóng “khinh bỉ” (nhàm chê) và lại còn những sóng  “vọng ngôn”, “ý ngữ”, lưỡng thiệt”, “ác khẩu” và “Tà thuyết” nữa.

50 Sóng thân thực (thân thể). Đại khái như gặp sắc xinh đẹp, thì sóng “Dục” nổi lên, làm cho ưa những sự ôm ẩm, vuốt ve, dựa kề, rờ rẩm, còn gặp cảnh cừu oán, thì sóng “ sân” khởi lên, sanh những cảnh đánh đập, đâm, bắn, giết hại.

Sóng “ Thân thức” nầy lại càng mạnh hơn bốn thứ sóng trước.

Năm thứ sóng Thức đã nói trên đó, thường liên tiếp với sóng “Ý Thức”, chẳng khi nào rời , nên mới phát khởi ra mọi sự phân biệt và tạo thành các nghiệp ô nhiễm.

60 Sóng “ ý Thức”, hay tùy theo những sắc  cảnh của năm thức ngoài (mắt, tai, mũi, lưỡi và thân), đã lãnh nạp, rồi đem vào so sánh, xao động cả đêm ngày, không khi nào êm lặng.

70 Sóng “ mạt na thức”, thường hay thông ra với sáu sóng thức ngoài, rồi thông vào với sóng “ Tạng thức” trong, nên làm cho sóng trong và sóng ngoài một đàng liên tiếp lưu chuyển luôn luôn.

80 Sóng “Tạng thức” là cái nguồn của bảy sóng thức nói trên đó, vì bởi mấy sóng Thức ấy thường đưa đẩy các thứ thiện ác vào trong sóng Thức nầy đứng chứa lại, nên không đời nào tiêu mất, vì vậy mà thành ra một cái biển sanh tử luân hồi.

Nói tóm lại, bởi biển tâm không tạnh, nên sóng Thức nổi hoài, làm cho chúng sanh trong Tam giới, đời đời kiếp kiếp, thường bị trầm luân, không khi nào thoát ra khỏi đặng. Thương thay!!

Chúng sanh đã đồng một thức tánh mà sao có khổ sướng khác nhau?

Thần thức của chúng sanh vẫn đồng mà nghiệp dụng lại riêng khác, nên sự khổ sướng chẳng giống nhau, mới có ba hạng người xin giải như sau đây:

10 Hạng người mà phần tình nhiều, thì thức tánh nhơ dục và tối tăm, chẳng biết sự phải trái, sự lành dữ, sự nhơn quả và sự tội phước,  làm nhiều đều bội nghịch hung tán; nên sau khi chết rồi, hoặc là chịu khỗ trong đường Địa Ngục , đường Ngạ quỉ; hoặc là đầu thai ra loài súc sanh, hoặc là làm thân người, thì cũng bần cùng khốn khổ…

20 Hạng người mà phần tưởng nhiều, thì tức tánh trong sạch và sáng suốt, xét biết sự Thế gian là giả dối, hiếu biết pháp Xuất thế gian là chơn thật, biết đường lành dữ báo ứng, biết sự sanh tữ luân hồi; nên tu các công hạnh; hoặc là bố thí , hoặc là tu tinh độ, hoặc là thiền định, hoặc là giữ giái luật: Nếu do các hạnh tu tập đó, thì sau khi lâm chung, hoặc là sanh về cõi Phật hay cõi Trời , hoặc là Thành Thánh và Thành tiên, hoặc là chứng quả Thinh Văn và quả Duyên giác, đều hưởng những sự tiêu diêu khoái lạc vô cùng vô tận.

30 Còn hạng người mà phần tình và phần tưởng cân nhau, thức tánh chẳng tối tăm lắm, nhưng mà cũng chẳng sáng suốt lắm, tâm thần cũng chẳng nhứt định, tánh tình hay đảo điên, hoặc làm lành hoặc chẳng trọn nghiệp lành, hoặc làm dữ mà chưa toàn nghiệp dữ, thì sau khi lâm chung rồi, được đầu thai ra cói nhơn gian,hưởng đặng các cảnh bình thường, chẳng khổ lắm mà cũng chẳng sướng lắm.

Xét lại mấy đoạn nói trên đó chỉ vì nghiệp thức huận tập 1 nhiều hay ít mới thành ra thức tánh có trong có đục, nên sự cãm báo có khổ sướng khác nhau thế.

Vậy thi làm thế nào mà hườn nguyên đặng cái thể tánh của biển Giác?

Từ đời vô thỉ vô minh phát nghiệp đến nay, thì cái nguồn chơn tâm hằng bị lưu chuyển, chẳng an trụ nơi bổn vị đã lâu và huận tập các thứ ô nhiềm đã nhiều rồi. Như bây giờ mà muốn hườn lại cái thể tánh thanh tịnh của biển giác, thì phải y theo trí chơn chánh mà tu tập mới đặng; vi trí ấy có cái thể rất linh thiên sáng suốt, có cái năng lực soi đến các chỗ u ám, thí như ánh sáng của mặt trời chiếu khắp các chỗ tối tăm.

Vã lại trí chơn chánh có cái thần dụng rửa sạch các nghiệp trần cấu, cũng thí như ngọc thanh thủy châu hay lóng trong các chất nhơ nhớp. Trí ấy thật là linh trim nhưng mà chẳng phải thuộc về phần phân biệt, lại có tánh sáng suốt, nhưng mà cũng chẳng phải thuộc về phần vọng thức. Thể tánh của trí ấy chẳng khi nào biến mất, mà cũng không lúc nào đổi dời, từ hồi không kiếp nhẩn trước trí hằng sáng sáng chói chói trong cõi chơn như pháp tánh, đến khi vô minh phát nghiệp về sau, thì trí ẩn ẩn núp núp trong nguồn Tâm trạng chúng sanh . Tri ấy lại có sức mạnh và nhặm lẹ, nên đứt trừ đặng cái cội gốc phiền não, phá đặng cái hang ổ cô minh, đến nổi soi thấu cội nguồn các pháp mà chẳng bị ngăn ngại, đối chiếu cảnh giới sáu trần mà cũng chẳng bị ô nhiễm và thường khi phát hiện nơi sáu căn.

Song vì tám sóng Thức đã nói trước đó, hằng xao động lộn đục, nên khó phân món nào là trí, món nào là thức, như mùi mặn của muối, và như tánh ướt của nước, khó dùng ý tư tưởng mà biện biệt đặng. Nếu chẳng dùng cách tu hành mà lóng gạn vọng thức cho trong sạch thì không bao giờ đặng thanh tịnh.

Phật nói ra tám vạn bốn ngàn pháp môn để đối trị tám vạn bốn ngàn chứng tâm bịnh của chúng sanh, nhưng mà các người tu hành, tùy theo tâm bịnh của mình ưa dùng pháp nào đều trị được mà tu, thì hườn nguyên đặng cái tánh bỗn giác.

Xin lược giải ít pháp như sau đây:

10 Tu “giái”, nghĩa là giữ giái luật cho trong sạch, các oai nghi cho vẹn toàn, tâm chảng điên đảo, thân chẳng xao động, trong thân ngoài thân thãy đều thanh tịnh, thì trí vô lậu lần lần hiện ra.

20 Tu định , nghĩa là dứt bỏ hết thãy các sự tư tưởng chăm lòng một cảnh, tham cứu những câu gì của mình đã từng nghi đó, thường đề khởi lên hoài, xét tới xét lui, nghi đi nghi lại, cã trong ngày đêm, đi đứng nằm ngồi, cứ phát nghi mãi, chớ nên dùng ý tư tưởng mà lý hội lầm. Ngoài thì gió cảnh chẳng xao, trong thì sóng Thức chẳng khởi, nước Định lần lần êm lặng, mà biễn Trí thỉnh thoảng sạch trong, công phu thuần thục , thì trí bát nhã tự nhiên hiển hiện.

30 Tu “ huệ”, nghĩa là dùng trí vô lậu mà làm tu nhơn, xét biết các pháp hư huyển, đạt thấu cái lý chơn không, tu các hạnh lành, trừ những hoặc nghiệp, lấy gươm huệ mà đứt giây phiền não, dùng đuốc trí mà phá chướng vô minh, lọc gạn các đều nhơ nhớp của sóng nghiệp thức thì cảnh giới Niết Bàn hiện ra.

40 Tu pháp, “ Trực chỉ thiền”, nghĩa là người nào căn khí lanh lợi, trí huệ sáng suốt, hoặc là thấy các pháp duyên khởi, hoặc là nghe người thiên tri thức dạy bảo, liền tỏ thấu thể tánh thanh tịnh của minh, thì vô sư trí hiện liền, tức là gạn sạch biển Thức, không còn chút gì nhơ bợn nữa, Pháp đó, mà tu được thì chỉ trong một dây phút đặng thành Phật, chẳng dùng công phu, không do thêm bực, nên gọi là pháp “Đốn giáo”.

Các pháp nói trên đó thì dùng trí vô lậu mà tu, còn có một pháp sau đây gọi là “ Quán Duy Thức” phải dùng thức mà tu, cũng như dùng độc mà giải độc vậy.


Pháp quán duy thức, chỉ xem xét cái tâm niệm mới phát khởi đương lúc hiện tiền, xin lược giải một sự dưới đây đặng cống hiến cho các người hành giả biền bệ tu tập.

Giả như con mắt xem thấy sắc xinh tốt mà khởi cái lòng tham sắc, thì quan sát cái tâm tham sắc đó, tại đâu mà khởi ra? Hoặc là tại sắc, hoặc là tại tâm, hay là tâm với sắc có nhơn duyên gặp nhau mà khởi ra, hay là chẳng có nhơn duyên mà tự khởi?

Như nói rằng: tại tâm mà khởi ra, thì trước khi chưa thấy sắc, sao tâm chẳng sanh sự tham muốn.

Kinh nói rằng: Hữu duyên tư sanh, vô duyên bấ sanh, nghĩa là có nhơn duyên thì tâm tư tưởng mới sanh, không nhơn duyên thì tâm chẳng sanh, vậy thì chẳng phải tại tâm.

Như nói rằng: tại sắc mà khởi ra, thì cũng chẳng nhằm, vì nếu ta không lưu tâm nới sắc thì làm sao mà sắc lại sanh cái niệm tham muốn cho ta đặng. Vậy thì chẳng phải tại sắc.

Như nói rằng: tại tâm với sắc có nhơn duyên gặp nhau mới sanh sự tham muốn, thì trên đây đã nói chẳng phải tại tâm thì nội tâm chẳng sanh và chẳng phải tại sắc, thì ngoại sắc cũng chẳng sanh. Tâm với sắc đều chẳng phải cái nhơn sanh tham muốn, dầu có gặp nhau thì làm sao mà dặng. Thí như một người đui đã chẳng thấy vật gì, hiệp sức với một người đui nữa, vậy có thể thấy đặng hay không? ấy là chẳng phải tại tâm với sắc.

Như nói rằng: không tâm không sắc và không có nhơn duyên gì cả, chỉ tự nhiên mà sanh sự tham muốn, thì trước đây đã nói rằng có nhơn có duyên còn chẳng sanh được, huống chi là không nhơn mà sanh được, thật là chẳng phải vô nhơn.

Hằng cứ ngậm nghĩ suy tìm trong bốn chỗ lược chỉ trên đấy, nếu chẳng biết rằng cái vọng tâm phát khởi tại đâu, thì quan sát xem coi có hay là chẳng có? Như nói rằng có, thì cái tâm đó ẩn núp tại chỗ nào? Còn như nói rằng chẳng có, sao lại khởi sự tham muốn?

Thường thường quan sát hoài mà tìm chỗ phát khởi của vọng tâm chẳng đặng, thì biết rằng cái vọng tâm đương hiện tại còn chẳng có, huống chi là cái tâm quá khứ và cái tâm vị lai ở đâu mà có đặng.

Phàm gặp sự gì vọng tâm khởi lên cứ suy xét tham tầm cho cùng chỗ duyên khởi của tâm, thì gió trần cảnh chẳng xao, song Vọng thức không động, liền hồi biển tạng thúc suốt đáy trong sạch, chẳng còn chút gì dơ bợn nữa, thì tánh Duy thức hiển hiện mà trí Như Như lại phát lộ.

Tu tập quan sát cho đến lúc công phu thuần thục và hoặc nghiệp trừ hết, thì mới chuyển tâm thức nói trên đó thành ra bốn món trí như sau đây:

1. Chuyển năn thức: nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt, thân, là trí thành sở tát.

2. Chuyển ý thức là trí diệu quan sát.

3. Chuyển thức mạc na làm Trí Bình Đẳng.

4. Chuyển thức A lại Da làm Trí Đại Viên cảnh, toàn song thức trở lại làm nước Trí: toàn biển thức trở lại thành biển giác.

Pháp quán duy thức đã lược giải trên đó, thật là pháp tu rất chơn chánh mà công dụng lại mau thành. Vậy mà ít người chịu tu theo phép chơn chánh ấy; chỉ cứ vui lòng đắm theo dòng song vọng tưởng của tà sư, vì có thích hiệp với cái nguồn mê tín của mình, mà luyện thuốc trường sanh, hoặc hút lấy tinh khí, hoặc sùng bái theo ngoại đạo, hoặc tín ngưởn theo Thần quyền, vân vân..

Cũng có nhiều người dùng ý tư tưởng mà làm căn bổn việc tu , thuận theo song vọng tưởng mà xao động cả đêm ngày, vừa nghiên cứu đặng chút đỉnh cảnh giới gì của biển thức lưu động ra, thì chấp cho là mầu nhiệm, cho là trí mình đã cao siêu hơn hết,, chê bai kinh điển, hủy bán Phật tổ, tạo nghiệp hữu lậu, mà gọi rằng đặng trí vô sư, Nếu cậy có khác nào như người quậy trong vũng bùn lấm mà tưởng rằng làm như vậy cho nước trong sạch và song êm lặng.

Cũng có người tu theo pháp vô tưởng định, gọi là chỉ đoạn trừ vọng tưởng, dứt bỏ thức tánh, không còn chút gì tưởng tưởng nữa. Tâm như tro lạnh, thân như cây khô, thành một món ngoan vật như cỏ cây vậy. đó là khô định, sanh về cõi Trời vô tưởng hễ mãn tám vạn kiếp rồi thì cũng hườn cái nghiệp thức như cũ. Thí như vũng nước dục, gặp lạnh quá nên đọng lại thành băng, tuy là chẳng nổi song được mà tất gì đã thanh tịnh.

Các pháp kể trên đây đều là tà tu không thể nào hườn lại cái tánh thanh tịnh đặng.

Vậy thì những người hành giả, cần nhứt phải lựa chọn pháp chơn chánh mà tu, mới khỏi uổng phí công phu, mà chắc chắn được thành Phật.

Nói tóm lại, biển Đại giác của chúng sanh nguyên là thanh tịnh nhưng vì vô minh phát nghiệp lưu động mới thành ra song thức. Sóng ấy lại lưu động nữa mới phân ra chi phải luân hồi. Nay muốn lấp dòng sanh tử, đào biển Niết Bàn, thì phải thề nhận cho thấu đáo cái nào là thức, cái nào là trí.

Thức với trí khác nhau cũng như song với nước vậy. Cái nghĩa đó, nếu còn tưởng tượng mơ màng, thì bất miễn bị song tư tưởng nó khỏa lấp trong dòng quản trí.

Nếu không đem cái lý vô sanh mà giải rõ cái nghĩa duyên khởi của song ở giữa biển mà ai cũng đã từng thấy đó, thì tất Độc giả cũng tưởng là song, hoặc là tại gió hoặc là tại nước mà sanh ra, hay là cho rằng gió với nước gặp nhau mà sanh ra song. Tất cũng có người cho là tự nhiên mà sanh ra song. Nếu nghĩ như vậy thì toàn cảnh của biển Trí đã thành một dòng song thức rồi.

Như nói rằng: song tại gió sanh ra, thì thành nghĩa tha sanh. Cái nghĩa ấy trong sách đã cho là chẳng đúng; vì đó chẳng phải là cái nhơn sanh song. Nếu có nhơn sanh song, sao chẳng có cổ động  trên đất liền cho thành một đàng sóng, lại đợi có nước mới có sóng.

Như nói rằng: tại nước sanh sóng thì thành nghĩa tự sanh. Cái nghĩa ấy trong sách cũng cho là chẳng nhằm; vì nước cũng chẳng phải là cái nhơn sanh sóng. Nếu nước có nhơn sanh sóng, sao trước khi chưa có gió chẳng tự sanh, mà đợi có gió chuyển mới nổi sóng.

Còn như nói: gió với nước hai thứ gặp nhau mới sanh sóng, thì thành nghĩa cọng sanh. Cái nghĩa ấy theo trong sách lại cho là “Vị đoán”, vì trên đây đã nói rằng chẳng phải gió sanh sóng, và cũng chẳng phải nước sanh sóng nữa, nếu hai thứ ấy riêng nhau đã chẳng sanh đặng sóng, dầu hợp lại cũng chẳng sanh đặng. Thí như một hột cát ép chẳng có dầu, rồi hiệp với mộ ít cát nữa, có thể ép ra dầu hay không?

Còn như nói rằng: không có nhơn duyên gì chỉ tự nhiên mà sanh sóng, thì thành nghĩa vô chơn. Cai nghĩa ấy theo trong sách cũng cho là tà thuyết; vì đã có nhơn và có duyên mà chẳng sanh đặng sóng, huống chi là tự nhiên mà làm sao sanh đặng. Như thật tự nhiên mà sanh đặng sóng, thì viên đá kia sao chẳng tự nhiên mà sanh sóng, cõi đất liền nọ sao chẳng tự nhiên mà nổi sóng.

Nếu rõ biết lý duyên khởi của dàng sóng giữa song và giữa biển hiện tiền đó, thì mới hiểu đặng sóng thức trong biển Tâm của mình.

Tuy vậy mà tâm Niết Bàn đễ hiểu, trí sai biệt khó phân. Vi kẻ mới học đạo chưa rõ nguồn cơn, bất đắc dĩ đương lúc thênh không mà phát khởi ra một đàng sóng thức luận.


Hòa thượng Trí Độ / Trích tạp chí Từ bi âm





Chú thích:

([1]) Lấy một hột bụi rất nhỏ mà chia ra làm muôn ức triệu phần nữa, thì trong một phần đã chia đó, dường có dường không, khó xem khó thấy, nên gọi là lân-hư.


([2]) Khí-thế-giới: gọi là các thứ có hình trạng như núi,sông, cõi đất liền, vân vân..

([3]) Tinh-thế-gian: gọi là chúng-sanh có tinh-thức tánh mạng như loài người và các giống sanh-vật, vân vân…

([4]) Lùm mây Thương-cẩu:gọi là đám mây trắng trên trời, độ trong giây phút mà biến ra thành một đám mây xanh, hình như con chó xanh vậy

([5]) Gió Tì: gọi là ngọn gió Tì-lam có sức chuyển rất mạnh, khi kiếp tận thì gió ấy thổi đấp hư nát cả thế giới….

([6]) Lửa kiếp: gọi là khi kiếp-tận thì bảy mặt trời mọc ra một lần, biển sông khô cạn như gò vậy. Tất cả các Thế-giới đều nổi cháy hừng như đống lửa lớn.

([7]) Tứ-đế: gọi là khổ-đế, tập-đế, diệt-đế, đạo-đế.

([8]) Mười hai pháp nhơn-duyên: gọi là vô-minh, hạnh, thức, danh-sắc, lục-nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão-tử.

([9]) Hữu-dư Niết-bàn: gọi là quả Niết-bàn hãy còn thấp thỏi, chưa đặng siêu-việt.

([10]) Ba kiếp Tăng-kỳ:Tàu dịch là vô-số, nghĩa là kiếp số nhiều quá không thể kể đặng nên gọi là tăng-kỳ, đây nói ba kiếp tăng-kỳ, lại càng nhiều hơn nữa.

([11]) Liểu-cảnh: là nghĩa tỏ biết các cảnh.

([12]) Tỉ-lượng: là nghĩa so sánh xác-đáng

([13]) Phi-lượng: là nghĩa trù tính mơ-màng nửa phải nửa chẳng phải