Post: :

Khi nền kinh tế phát triển, ai cũng nghĩ đời sống vật chất, tinh thần sẽ được cải thiện và khi đời sống ấm no, thì mối quan hệ giữa người với người sẽ ngày càng tốt hơn.



Nhưng thực tế, khi nền kinhtế xã hội phát triển, thì tinh thần và đạo đức hiện nay ở hầu hết các khu vực vàquốc gia lại rơi vào tình trạng tiêu cực và suy thoái trầm trọng. Đứng trướcthực tại suy thoát này, các nhà Giáo dục, Tâm lý học và các nhà Xã hội học đềucho rằng, nguyên nhân “lệch chuẩn”đao đức hiện nay là do mặt trái của cơ chếthị trường…Còn các nhà khoa học nói chung, thì cho đây là một “nghịch lý” thếkỷ. Đạo Phật với nền giáo dục đạo đức xã hội đương đại Phân tích, nhìn nhận đánh giásự vật đúng sai, theo đạo Phật vấn đề này, vẫn nằm trong diễn biến vô thường.Chân lý tối hậu là phải chịu được sự khảo nghiệm của thời gian. Mọi giả lập đềukhông đưa con người đến giác ngộ-giải thoát, mà chỉ làm cho con người mê lầm,bối rối và sợ hãi trước thực tại. Bởi thamđắm và chấp trước tưởng là nguyên nhân dẫn con người đến với những hệ lụyvà tiêu cực không thể lường trước được, khi con người tự đánh mất mình. Theo đạo Phật, vị trí của conngười là tối thượng, con người là chủ nhân của chính mình, không có một thựcthể hay quyền năng nào định đoạt được số phận của họ. Đức Phật dạy: “Này các đệtử, các người là nơi nương tựa của chính mình, không còn ai khác nữa”. Ngàigiảng dạy, khuyến khích động viên mỗi người hãy tu tập và tìm sự giải thoát chochính mình bằng khả năng, trí tuệ của mỗi bản thân. Như vậy, trí tuệ và sự nỗlực bản thân con người là điều kiện cần có để con người đạt được sự giác ngộ,giải thoát và an lạc. Vì vậy, ngay sau khi Đức Phật chứng quả giác ngộ Vôthượng Chánh đẳng, Chánh giác, Ngài đã đem ra thuyết giảng cho các đệ tử vàđược ghi lại trong Tam Tạng Kinh điển của đạo Phật để truyền bá trong nhân gianrất cao siêu, mầu nhiệm mà cũng rất thực tế khiến chúng ta có thể cảm nhậnđược. Giáo lý trong ba tạng kinh điển này, Đức Phật nói về nhân sinh quan vàthế giới quan của đạo Phật. Về nhân sinh quan chắc không cần thiết phải nói thìai cũng biết rằng, giáo lý đạo Phật mang đậm sắc thái luân lý. Luân lý đó đượcthể hiện trong giáo pháp của Phật qua bốn câu kệ “Chư ác mạc tác, chúng thiệnphụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo” (Không làm các điều ác,siêng làm các điều thiện, giữ tâm ý trong sạch, đó là lời dạy của Chư Phật) vàđưa ra đường lối tu dưỡng đạo đức để đạt được hạnh phúc, an lạc và giải thoát.Đức Phật đã chỉ dạy từ việc lớn như quốc gia chính sự, đền việc nhỏ như hòa khítrong gia đình. Đó là sự thật mà chúng ta thấy hầu hết trong các kinh điển Phậtgiáo. Trong bài này người viết xin chỉ đưa ra một số giáo lý về đạo đức nói tớiHạnh phúc, an lạc Niết bàn, đó là giáo lý về Ngũ giới (Năm cách); giáo lý về Bát chính đạo (con đường thánh thiện-con đường trở thành bậc thánh)đó là những giáo lý mang tính đạo đức xã hội một cách sâu sắc mà ngày nay xãhội đang đòi hỏi. Và chỉ có giáo lý này, mới có thể ngăn ngừa được sự suy thoáiđạo đức ngày càng gia tăng như hiện nay. Dưới đây là nội dung của Ngũ giới, tứcNăm điều răn cấm đối với nhân loại, hay 5 điều kiện để con người thực sự làngười có nhân cách: Đạo Phật với nền giáo dục đạo đức xã hội đương đại Thứ Nhất làkhông sát sinh, tức là không được giết hại sinh mạng từ loài người cho đến cácloài vật, bởi vì mạng sống là giá tri tuyệt đối cao nhất, quý nhất. Trong khicon người ai cũng muốn sống mà lại giết hại các sinh mạng khác thì thật là vôlý. Với lòng từ bi của mình, Đức Phật coi mọi loài đều là con mình, nên Ngàikhông đồng ý cho đệ tử của Ngài.sát hại lẫn nhau và giết hại các loài khác, màphải tôn trọng sự sống của mọi người, mọi loài. Không sát hại các sinh mạngcũng có nghĩa là không làm hại đến các loài thực vật và khoáng vật. Như vậy,nhân loại sẽ ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, ý thức được môisinh mà con người cần phải có để bảo vệ sự sống cho mình và cho mọi loài. Giữđược giới không sát sinh tâm ta sẽ được an ổn vì khỏi lo thù oán, oan gianghiệp báo, bảo vệ được sự sống chung và nhân loại chúng ta sẽ có hòa bình anlạc. Thứ hai làkhông trộm cướp: nghĩa là không lấy tài sản của người khác khi người đó chưacho. Bất kể là những thứ quý giá như vàng ngọc, tiền bạc cho đến những thứ nhỏnhoi như cây kim sợi chỉ, chúng ta không muốn ai lấy của mình thì tại sao lạitìm cách cướp đoạt của người khác. Với tâm bình đẳng của Đức Phật, Ngài khôngcho đệ tử làm những việc trái lẽ phải, trái đạo đức và bất công nên Ngài cấmtrộm cướp. Đức Phật dạy trong kinh Tứ thập nhị chương “Người tham luyến sắc tàikhông chịu rời bỏ cũng như đứa bé tiếc một chút mật dính trên lưỡi dao, nó thèlưỡi liếm, liền bị cái họa đứt lưỡi”. Do vậy, mà vì tham tiền, tham bạc nênnhiều người tự gieo mình vào trong khám đường, dưới địa ngục phải chịu nhiềuhình phạt khổ sở, gây đau khổ cho mình và cho người. Nếu trong chúng ta ý thứcđược những khổ đau do lừa gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, biết tôntrọng quyền sở hữu của người khác, không ai lấy của ai thì xã hội sẽ được anbình, ngủ đêm không phải cài cửa, thật là hạnh phúc an vui. Thứ ba làkhông tà dâm: Nghĩa là không phạm đến trinh tiết của người không phải là vợ(chồng) mình. Tất cả những sự tư thông lén lút là pham giới tà dâm. Hạnh phúcđâu còn khi vợ chồng không tin nhau. Còn gì đau khổ hơn khi sống chung gia đìnhmà chồng hoặc vợ có bụng dạ tình cảm riêng tư với người khác. Phật dạy, ngườiôm lòng ái dục cũng như kẻ cầm đuốc đi ngược gió quyết sẽ bị lửa cháy tay (kinh42 chương). Thật vậy, xưa nay biết bao gương đã chứng minh những kẻ đam mê sắcdục phải tan nhà, mất mạng. Nếu cả nhân loại chúng ta ý thức được những khổ đaudo tà dâm gây ra, giữ dục thanh tịnh thì nhân phẩm được nâng cao, gia đình đượcđầm ấm, xã hội an bình hạnh phúc. Thứ tư làkhông nói dối: Nghĩa là không nói những lời sai sự thật. Đạo Phật là đạo chânthật, người tu đạo Phật phải tôn trọng sự thật nên không được nói dối. Nói dốisẽ làm mất lòng tin của nhau, gây cho nhau đau khổ. Nếu lời nói không đúng sựthật thì ai dám tin. Mất lòng tin thì mất tất cả. Nếu chúng ta không tin nhau,nghi ngờ nhau thì xã hội sẽ ra sao? Có phải là một xã hội đầy sự nghi kỵ, bấttrắc và lo âu chăng !? Chúng ta không nói dối là biết tự trọng, không làm tổnthương người khác. Ý thức được những khổ đau do nói dối gây ra, mỗi chúng takhông nói dối thì chính chúng ta được an ổn, thanh cao. Nhân loại không nói dốithì xã hội này được an lạc, hạnh phúc biết bao. Thứ năm làkhông dùng những chất kích thích độc hại: Đây là giới cấm không uống rượu và làgiới cấm sau cùng trong 5 giới mà ngay từ thời Phật tại thế, Ngài đã thấy táchại của việc uống rượu. Và khi xã hội phát triển, những chất độc hại như thuốclá, ma túy, ma túy tổng hợp phát triển tràn lan thì các quốc gia và thế giới đãcó cơ quan phòng chống. Bởi tác hại của các chất độc hại này khi sử dụng sẽ làmcon người say sưa, mất hết nhân tính, trí tuệ, gây nhiều bệnh tật, nguy hiểmcho sức khỏe không chỉ với đối tượng nghiện hút mà cho cả thế hệ tương lai.Rượu chè, ma túy còn làm khuynh gia bại sản đối với nhiều gia đình và làm mấtan ninh xã hội. Sự khổ đau do các chất độc hại gây nên là khó có thể lường hếtđược. Ý thức được những khổ đau do việc sử dụng rượu, thuốc lá, ma túy gây ra.Chúng ta trong khi ăn uống phải có chính niệm, những gì có độc tố gây bệnh thìnhất định chúng ta không sử dụng để giữ gìn sức khỏe cả về thể chất và tâm hồnchúng ta. Không sử dụng các chất độc hại nói trên, thì nhân loại chúng ta sẽ anbình hạnh phúc. Chúng ta sẽ giành được khoản tiền lớn từ việc chống ma túy vàcai nghiện…để làm vào những việc phúc lợi dân sinh thì xã hội chúng ta đượctiến bộ, văn minh và tươi đẹp biết chừng nào! Năm giới cấm (ngũ giới) tức 5điều răn của Đức Phật đối với chúng ta thật quý báu. Song, chúng ta cần phảihiểu thấu đáo rõ ràng để áp dụng cho có hiệu quả. Chữ giới theo Phạn ngữ cónghĩa: phục vụ, thực hành, quy luật hay kỷ cương. Giới trong Phật học khôngphải là những điều luật hay những quy tắc…bắt buộc con người phải tuân theo mộtcách chặt chẽ cứng nhắc như trong nhà trường, cơ quan, ban ngành đoàn thể, cáctổ chức xã hội…giới ở đây là sự hướng dẫn của Đức Phật khuyên dạy cho nhữngngười học Phật, sau khi Ngài Diệt độ, bằng những bổn phận phải làm và nhữngđiều nên tránh để khép mình vào nếp sống kỷ cương qua phát triển trí tuệ, đểmang lại lợi ích cho mình và cho người. Đức Phật không ép buộc và không hứa hẹnvới những người học Phật, sẽ ban thưởng người làm thiện và trừng Phạt người gâytội. Chúng ta cần phải hiểu rõ là: mỗi người phải tự chịu đau khổ vì những hànhđộng sai lầm của mình và thọ hưởng những lợi ích do hành động chân chính củamình. Giới của Đạo Phật là nhữngnguyên tắc rèn luyện bản thân con người qua nhiều phương diện khác nhau về đạođức. Giới là để tránh các điều ác, tu tập các điều lành, giữ tâm ý trong sạch.Giới không phải là sự tự hãm mình, mà là luôn luôn tâm niệm và nêu cao giới đứccủa mình. Theo đạo Phật có giữ giới tốt mới phát triển lòng nhân và tuệ giác.Phương diện đạo đức là tu tập thân, khẩu,ý thanh tịnh để diệt trừ tham, sân,si ở nội tâm, đưa đến sự an vui giác ngộ-giải thoát cho chính mình và chotha nhân. Đạo đức và giáo lý của Phật giáo bắt nguồn từ lòng bi mẫn đối với conngười. Không ai ra lệnh, giới cấm chỉ là điều răn nhắc nhở mình với tinh thầntự giác giác tha mà thôi. Bởi Phật giáo nói: tham thì khổ, sân thì khổ, si thìkhổ. Từ thì vui, bi thì vui, hỷ thì vui, xả thì vui. Từ bi hỷ xả, cứ thực hànhsẽ thấy vui. Tham sân si, cứ mắc vào sẽ thấy khổ. Đừng giết hại, đừng nói dối,đừng trộm cắp, đừng tà dâm, đừng say rượu: đó là năm điều ta tự nguyện với ta,làm được đến đâu ta nhẹ nhàng tới đó. Đạo đức của Phật giáo là thực nghiệm,nhắm mục đích làm cho con người tốt hơn đã đành, nhưng cốt nhất là làm nội tâm conngười thanh thản, bởi vì thanh thản chính là hạnh phúc. Bất cứ xã hội nào muốn pháttriển và tồn tại lâu dài, thì phải cần có những con người trí tuệ và đạo đức.                   Mỗi chúng ta hãy làm theo 5 điều khuyên ấy thìnhất định chúng ta là những con người thật sự có đầy đủ nhân cách và phẩm giá,sẽ tạo cho xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ và thật sự có an vui hạnh phúc Cùng với Năm điều răn trên, Kinh Singalovada trong Trường A Hàm, ĐứcPhật dạy chàng Thiện Sinh – Người thường lễ bái sáu phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, Thượng, Hạ theo ýnghĩa sau: Phương Đông là chỉ cho cha mẹ; Phương Nam là bậc thầy; Phương Tây làvợ con; Phương Bắc là bạn bè, quyến thuộc, láng giềng; Phương Hạ là tôi tớ,người làm công và thợ thuyền; Phương Thượng là những vị tu sĩ Sa môn, Bà la môn(dưới đây là nội dung sáu phương mang tính luân lý đạo đức xã hội sâu sắc)                Thứ nhấtlà cha mẹ với con cái: Cha mẹ bậcthiêng liêng đối với con cái. Đức Phật dạy: Cha mẹ là thượng đế. Người theo đạoPhật trước hết phải tôn kính cha mẹ, con cái phải lễ bái cha mẹ “Tu đâu chobằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là đạo con”(ca dao vn).Con cái hàng ngày phảilàm bổn phận đối với cha mẹ như làm bất cứ điều gì cần làm cho cha mẹ, phải giữdanh dự cho gia đình và tiếp nối truyền thống của gia đình, phải chăm sóc chamẹ lúc già yếu và khi ốm đau, phải bảo vệ tài sản cho cha mẹ, phải làm lễ cẩntrọng khi cha mẹ chết…Đối lại, cha mẹ cũng có trách nhiệm với con cái như phảinuôi nấng, dưỡng dục con cái trưởng thành, phải giữ cho chúng tránh xa nhữngthói tệ nạn xã hội, phải hướng chúng làm những việc thiện lành và lợi ích, phảicưới gả chúng vào những gia đình tử tế, khi phân chia tài sản cho chúng phảicông bằng…         Thứhai là mối quan hệ thầy trò: Người học trò phải kính trọng, vâng lời thầy“Tôn sư trọng đạo”, phải lo cho thầy những điều thầy cần thiết, phải học hànhchăm chỉ, nhớ và làm theo những điều thầy dạy…Đối lại, với thầy phải huấn luyệndạy dỗ trò những điều cần dạy dỗ và dạy dỗ nhiệt tình, cẩn thận, thương yêu họctrò như con mình…         Thứba là quan hệ vợ chồng: Tình cảm vợ chồng là tình cảm thiêng liêng, nên đạoPhật dành cho mối quan hệ này là sự tôn trọng cao cả. khác với Nho giáo (vợ nhưtấm áo cởi ngay tức thì). Vợ chồng phải trung thành, chồng tôn trọng vợ, phảiđảm bảo đời sống tiện nghi cho vợ, phải luôn làm cho vợ vui lòng…Đối lại, ngườivợ phải chăm sóc chồng, coi sóc việc nhà thay chồng, phải làm vui lòng khách vàbạn bè của chồng, phải giữ gìn tiền của chồng kiếm được…         Thứtư là liên hệ giữa bạn bè và bà con láng giềng: Các mối quan hệ này vớinhau, phải tử tế, thân thiện, nhân từ, phải nói lời hòa nhã dễ nghe, phải làmlợi ích cho nhau, phải hòa thuận với nhau, phải giúp nhau khi cần và đừng bỏnhau khi hoạn nạn…         Thứnăm là quan hệ giữa chủ và thợ hay người làm công: Người chủ khi giao việc,phải tùy theo khả năng và sức lực của thợ, phải trả lương cho thích hợp, phảicung cấp thuốc men khi đau ốm, thỉnh thoảng phải nên cho quà tặng vào những dịplễ tết.  Đối lại, người giúp việc hayngười làm công phải siêng năng không được biếng nhác, không được ăn cắp giờ,phải làm hết sức lực, trách nhiệm của mình, phải lương thiện vâng lời và khôngđược lừa gạt chủ…         Thứsáu là liên hệ giữa Sa môn, Bà la môn với các gia chủ: Gia chủ phải có lòngtừ kính với các bậc Sa môn, Bà la môn, nên cúng dàng các vật cần thiết như cơm,áo, thuốc thang, sàng tọa…Ngược lại các Sa môn, Bà la môn nên có bổn phậnkhuyến khích gia chủ không làm ác, chỉ làm thiện, giữ cho thân, khẩu, ý đượctrong sạch, có lòng từ bi hỷ xả đối với gia chủ, dạy bảo gia chủ đi theo conđường chính đạo, khuyến khích gia chủ làm lợi ích cho cộng đồng xã hội. Hướngcho họ nếp sống hướng thượng, tốt đẹp.          Với bài kinh nói trên, Đức Phật đã hướng dẫn cho thanh niên Singalocadavề cách ứng xử giữa người với người, giữa các thành viên trong gia đình, cộngđồng xã hội thật là chân tình, thật là nhân cách, và thật là tốt đẹp. Nếu aicũng thực hành như vậy, thì cộng đồng nhân loại sẽ có cuộc sống an vui và hạnhphúc biết nhường nào!          Cùng với Ngũ giới, tức 5 điềurăn cấm và bài kinh nêu trên, trong giáo lý Đức Phật, chúng ta thấy phần lớn ởcác kinh, bằng cách này hay cách khác Đức Phật thường đề cập tới Bát chánh đạo (Tám con đường chính dẫntới chấm dứt khổ đau) hay cũng gọi là Bát Thánh đạo (Tám con đường chính dẫntới thánh thiện). Đó là Chính kiến (sự thấy biết chân chính), Chính Tư duy (suynghĩ chân chính), Chính ngữ (lời nói chân chính), Chính nghiệp (hành động chânchính), Chính mạng (sự sống chân chính), Chính Tinh tiến (cố gắng chân chính),Chính niệm (nhớ tưởng chân chính) và Chính định (sự tập trung tư tưởng chânchính). Dưới đây là khái lược của Bát chánh đạo: 1 -  Chính tri kiến: là sự biết các sự vật, đúngnhư sự thật của nó (thấy biết được bản chất các sự vật). Do vậy, chính kiến làthấy, hiểu được giáo lý về bốn sự thật (Tứ diệu đế) là sự hiểu biết có trí tuệcao, thấy được thực tại tối hậu. Trí tuệ này có thể đạt được khi tâm đã sạchmọi cấu nhiễm và hoàn toàn phát triển nhờ thiền định. 2-  Chánh tư duy: là những tư tưởng nhằm loại trừphiền não để đạt được giác ngộ và giải thoát của lý tưởng về lòng yêu thươngnhân loại và muôn loài; lý tưởng vô ngã vị tha, không có những dục vọng tầmthường và vị kỷ… 3-  Chính ngữ: là lời nói chân chính, không nóidối, chỉ nói lời chân thực, dùng lời nói để tạo các nghệp thiện lành, Không nênnói năng bừa bãi, vô căn cứ, lời nói nên đúng lúc và đúng chỗ. Nếu không thểnói được điều gì lợi ích hơn, tốt hơn thì nên giữ sự “im lặng của bậc Thánh”. 4-  Chánh nghiệp: là hành động (hành vi) củachính mình phải hợp với đạo đức, không sát hại, tổn thương đến các sinh mạng,không trộm cướp, tà dâm, giúp người khác sống cuộc sống hòa nhã, khả ái hơn… 5-  Chánh mạng: là sống bằng nghề nghiệp khôngmang lại thiệt hại cho người khác và xã hội như: buôn bán chất ma túy, đồ ănuống say sưa, độc dược, giết hại súc vật, lừa đảo…phải nên sinh sống bằng nghềnghiệp chính đáng và không gây hại cho người và vật. 6-  Chính tinh tiến: là ý chí mạnh mẽ ngăn ngừanhững điều xấu ác chưa phát sinh, trừ bỏ những điều xấu ác đã phát sinh, làmphát sinh những điều thiện chưa phát sinh, tăng trưởng những điều thiện đã phátsinh. 7-  Chính niệm: là luôn luôn ý thức rõ ràng đượcnhững hoạt động của mình từ hành động, lời nói đến ý nghĩ sao cho mỗi việc làm,lời nói hoặc ý nghĩ của mình đều đem lại lợi ích cho mình và cho người, khônggây tác hại cho xã hội. 8-  Chính định: là khi có chính niệm thì chúng tasẽ có chính định. Và khi sống trong chính niệm thì chúng ta làm việc gì cũngtrong tư tưởng tập trung có năng lượng đem lại lợi ích cho mình và cho người,không gây tác hại đến cộng đồng xã hội. Bát Chính đạo chỉ là một phầntrong giáo lý của Đức Phật. Chỉ cần những cố gắng nhỏ để áp dụng Tám bước nàyvào đời sống cũng sẽ mang đến cho chúng ta hạnh phúc. (xin tóm lược về duyênkhởi của Bát chính đạo) Đây là bài Chuyển Pháp Luâncủa Đức Phật giảng tại Vườn Nai cho năm anh em ông Kiều Trần Như nghe. Trong đóBát Chính đạo là chủ đề đầu tiên mà Đức Phật chuyển pháp. Từ sự quan sát cuộcđời của mình qua những kinh nghiệm sống trong hai giai đoạn: Giai đoạn một, đượccoi là hưởng thụ lợi lạc theo thế tục trong cung điện và giai đoạn hai là sáu(6) năm tu khổ hạnh. Đức Phật nhận ra rằng: Mình là người tu hành đang đi tìmĐạo, đừng để lạc vào trong các quan điểm, thái quá hay bất cập, hoặc giả địnhcủa cuộc đời, sau cùng là không có kết quả khả quan. Để chứng đạt thành quả duynhất muốn tìm, từ đó, Ngài tự tu tập, Giới, Tâm Thanh tịnh, dựa vào kinh nghiệmbản thân, không (dụng công) như kiểu tu trước và Ngài đã khám phá ra con đườngTrung đạo, theo tiếng pali có nghĩa là, giữa, Việt dịch là con đường ở giữa,Hán Việt gọi là Trung đạo. Ý nghĩa chính của con đườngTrung đạo là sự thức tỉnh của Đức Phật, qua sự so sánh trong hai kinh nghiệm từngtrải trong đời của Ngài và rút ra một kết luận, để khuyên người đang đi tìmđạo: một là nếu đắm mình trong dục lac sẽ dẫn đến nguy hại và thứ hai nếu tựhành hạ mình bằng các hình thức khổ hạnh nghiêm khắc cũng sẽ dẫn đến đau khổ. Vàpháp môn thiền thanh tinh được Ngài lựa chon. Với kinh nghiệm thực chứng sâurộng, con đường Trung đạo mà Ngài tìm ra là phương pháp diệt Khổ, để đưa conngười đến sự an vui thanh tịnh trong cuộc sống. Con đường Trung đạo này cònđược gọi là Bát chính đạo và tiếng pali có nghĩa là cao quý, cao thượng. Bátchính đạo gồm có tám yếu tố quan trọng như đã đề cập ở trên. Bát chính đạo đượcchia làm ba nhóm: Chính kiến, chính tư duy thuộc về trí tuệ. Chính ngữ, chínhnghiêp, chính mệnh thuộc về giới luật. Chính tinh tấn, chính niệm, chính địnhthuộc về định. Tám yếu tố của Bát chính đạo không phải là một tiến trình sắpxếp theo thứ tự nhất định, như là yếu tố này phải đứng trước yếu tố kia, màchúng giao thoa tương hỗ lẫn nhau. Như vậy, nếp sống đạo đức vàluân lý trong đạo Phật nhằm mục đích làm cho đời sống cá nhân con người, cũngnhư toàn xã hội đều đạt tới an lạc và hạnh phúc. Không thể có sự phát triển tâmlinh nào nếu không có nếp sống căn bản đạo đức Phật giáo. Với giáo lý Ngũ giới và Bát chính đạo, cùng bài kinh dạycách sống tốt đẹp nói trên, là một phần nhỏ trong đạo đức học Phật giáo đã xâydựng cho nhân loại một nền móng đạo đức vững chắc. Nhân loại chúng ta ngày nayđã và đang ứng dụng nó vào cuộc sống. Sự ứng dụng đó ngày nay càng đòi hỏi hơnbao giờ hết vì nhân loại đang sống trong sự phát triển kinh tế, vật chất vớinhu cầu cao của đời sống con người. Ở ViệtNamchúng ta đang đối đầu với mặttrái của cơ chế thị trường thì lại càng đòi hỏi nó phải được ứng dụng nhiều hơnnữa trong cuộc sống. Trên thế giới, Hội nghị Quốc tế Phật giáo do chính phủSrilaka tổ chức tại Colombo năm 1998, với chủ đề “Bức Thông điệp vĩnh hằng của Đức Phật Tổ (Thetimeles  of Sammasambuddha) đã thông qua nghị quyết trong đó có  đề câp tới 5 điều răn cấm của Đức Phật cần được đưa lên các phương tiện thôngtin đại chúng, nhằm nêu bật giá trị của 5 điều răn dạy nói trên đối với cáctầng lớp thanh thiếu niên…Năm giới và Bát chính đạo là hệ thống đạo đức toàncầu, thực tế đã và đang được ứng dụng để tạo sự phát triển của loài người vềđạo đức, tinh thần và trí tuệ, được xây dựng dựa trên các nhu cầu đạo đức vàtâm lý của con người nhằm đạt được một cuộc sống an lạc, hạnh phúc và thịnhvượng. Từ Hội nghị Quốc tế Phật giáovà Thông điệp nêu trên, đã cho thấy giáo lý của Đức Phật cho một nền giáo dụcđạo đức xã hội đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Theo lịch sử sáng lập và pháttriển của các tôn giáo, thì đa phần những vị giáo chủ hoặc là thượng đế, thượngđế mặc khải hay thượng đế nhập thể với các hình thức khác nhau. Riêng Phật giáothì Đức Phật (vị giáo chủ) là một con người thực thụ. Ngài tuyên bố tất cảnhững gì Ngài thực hiện được, đạt được và hoàn thành được đều hoàn toàn do nỗlực và trí tuệ của chính con người Ngài. Con người và chỉ có con người mới cóthể thành Phật và trở thành người giác ngộ, nếu họ nỗ lực. (HT Thích Gia Quang) Nền giáo dục đạo đức xã hộiđương đại có thể áp dụng giáo lý nêu trên của Đức Thế Tôn để làm dường cột giáodục trước sự suy thoái đạo đức hiện nay. Bởi giáo lý này đã được kiểm chứng,vượt qua sự khảo nghiệm của thời gian. Đó là Chân lý nhất như mầu nhiệm, nếu chúngta thành tín và thực hành nó với thái độ rốt ráo. Cư sĩ: Nguyễn Đức Sinh  Tài liệu tham khảo: -   Bước đầu học Phật – HT. Thích Thanh Từ  (Nxb-TG -2001) -   Tám quyển sách quý – HT  Thích Thiện Hoa  (Nxb-Tp.HCM- 1989) -   Bài: Vài nét về đạo Phật với nền giáo dụcđạo đức xã hội – HT. Thích Gia Quang. (Tap chi nghiên cứu Phật học- số 5-2001)